Trang chủ » Tranh luận » Loạn rau sạch: Nông dân bỏ trồng, người dùng bỏ ăn

Loạn rau sạch: Nông dân bỏ trồng, người dùng bỏ ăn

21 Th3 2014

Tác giả:

Chuyên mục: Tranh luận

4404 0

Bỏ trồng rau sạch

Tại một hội nghị về tiêu chuẩn VietGap mới đây, ông Phạm Đồng Quảng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, hiện nay, việc kiểm soát chuỗi sản xuất trồng trọt từ vườn ruộng đến bàn ăn hiện được Bộ NN-PTNT phân cấp cho nhiều cơ quan khác nhau.

Trong đó, Cục Trồng trọt chịu trách nhiệm giám sát các cơ sở trồng trọt, cơ sở sơ chế gắn liền với trồng trọt; cấp giấy chứng nhận VietGap. Cục Bảo vệ thực vật kiểm soát các lô hàng xuất nhập khẩu. Cục Chế biến Nông lâm thuỷ sản và Nghề muối giám sát các cơ sở chế biến. Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và Thuỷ sản giám sát chợ đầu mối; truy xuất nguồn gốc sản phẩm không đảm bảo an toàn; kiểm tra tận gốc tại nước xuất khẩu; thẩm tra công nhận nước xuất khẩu

Theo ông Nguyễn Xuân Quảng, có 0,3% diện tích áp dụng VietGap. Phần lớn nông dân không áp dụng vì quy trình dài và phức tạp; chi phí lớn; nông dân không hài lòng với giá cả giữa sản phẩm VietGap và sản phẩm không ứng dụng VietGap trên thị trường dẫn đến người nông dân không muốn sản xuất theo quy trình VietGAp.

{keywords}

Người nông dân ngại sản xuất rau an toàn bởi quy trình sản xuất phức tạp còn người tiêu dùng thì không muốn mua vì mất lòng tin

Theo bà Nguyễn Thị Tân Lộc (Viện Nghiên cứu Rau quả), Bộ NN-PTNT còn thiếu một chương trình đồng bộ có mục tiêu về phát triển sản xuất rau, quả an toàn. Còn thiếu sự liên kết dọc và liên kết ngang giữa các tác nhân trong ngành hàng rau, quả nên chưa giải quyết tốt được khâu tiêu thụ sản phẩm, chưa chưa cân bằng được lợi ích giữa các tác nhân nên chưa thực sự động viên được người sản xuất đầu tư và nghiêm túc thực hiện quy trình.

Có tiền nhưng không dám mua

Trong khi người nông dân không muốn sản xuất các loại rau, quả, nhất là RAT thì người tiêu dùng lại không muốn mua kể cả khi sẵn sàng chi tiền để được ăn rau sạch.

Theo đại diện của Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, hiện cả nước có 823.700 ha rau, tổng sản lượng 14 triệu tấn/năm. Trong đó, khoảng 85% sản lượng rau được tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu.

Số mẫu rau phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức giới hạn cho phép vẫn ở mức cao, chiếm 5-7% sản lượng. Những năm qua, không ít các lô rau xuất khẩu bị một số thị trường cảnh báo nhiễm vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật. Vẫn còn nhiều vùng sản xuất, cơ sở trồng rau chưa được chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm, áp dụng VietGap. Người tiêu dùng gặp khó khăn cho việc phân định rau đã được kiểm soát an toàn thực phẩm với rau chưa được kiểm soát.

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Trưởng phòng Giao dịch của Sàn Giao dịch Rau quả và Thực phẩm An toàn Hà Nội cho biết, đến nay đã có gần 100 đơn vị sản xuất và cung ứng rau quả thực phẩm an toàn tại 15 tỉnh, thành phố tham gia giao dịch trên Sàn. Các đơn vị này được hỗ trợ kết nối giao dịch với khoảng 150 siêu thị, cửa hàng, đầu mối bán buôn, bán lẻ và 78 điểm phân phối ở khu dân cư, cơ quan.

Nhu cầu của người tiêu dùng đối với rau quả an toàn theo tiêu chuẩn VietGap là rất lớn nhưng, các cơ sở sản xuất rau VietGap mặc dù được đầu tư nhiều nhưng không phát triển được như kỳ vọng.

Bà Oanh còn chia sẻ: “Do hạn chế về quản lý nên thị trường rau an toàn tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung rất “loạn”. Gần như không thể kiểm soát được nguồn gốc và chất lượng rau kể cả ở những hệ thống được coi là đảm bảo như siêu thị. Điều này dẫn đến lòng tin của người tiêu dùng bị khủng hoảng nặng nề nên khi một cơ sở sản xuất rau an toàn chuẩn giới thiệu sản phẩm, kể cả cam kết bảo hành chất lượng nhưng người tiêu dùng vẫn không tin. Khi người mua đã không tin thì kể cả có nhu cầu, có tiền họ vẫn không muốn mua”.

Theo bà Oanh, trong thời gian tới, để rau VietGap có “đất sống”, được người tiêu dùng ưa chuộng và tin tưởng, cần tính toán để giảm giá thành để rau an toàn ngày càng “phổ thông hóa”. Còn nhiều cách để có thể cắt giảm giá thành. Chẳng hạn, riêng khâu bao gói hiện chiếm tới khoảng 30% giá thành bao gồm chi phí tiền túi nilon (chưa kể gây ô nhiễm môi trường), chi phí đóng gói (tốn nhiều nhân công)… Nhà nước cần dành ít nhất 50% nội dung công việc và ngân sách cho việc phát triển thị trường và tổ chức mạng lưới tiêu thụ, tránh cách làm trước đây chủ yếu tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực sản xuất mà ít chú trọng đến thị trường.

Đánh giá

  • 4404 lượt xem
  • 0thảo luận

Chia sẻ

  • Share Facebook
  • Share google plus
  • Share pinterest