Diễn đàn kinh tế Việt Nam – VEF

Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Những câu hỏi chưa có lời đáp từ Vinashin







Thuận Hải tổng hợp

 

Ngày 1/7 vừa qua, một số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên. Liệu đây có phải là một bước chuyển đổi thực chất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN), như chính phủ đã tuyên bố, hay chỉ là “đổ rượu cũ qua bình mới”, vì bình cũ đã quá đát?

 

 Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, TS. VÕ TRÍ THÀNH:

 

Câu hỏi đặt ra ở đây là chuyển đổi này mang tính hình thức, một quyết định hành chính thuần túy, hay là một chuyển đổi thực chất? Về nguyên tắc, cần phải nói rằng, bản chất của việc chuyển đổi này đã làm rõ được quyền sở hữu. Từ đó, nó có thể tác động đến quá trình đổi mới quản trị DN, cũng như tính minh bạch trong họat động của DN – những yếu tố quyết định sự cải thiện năng lực cạnh tranh. Vì vậy, vẫn phải chờ đợi, còn quá sớm để có một nhận định nào đó về quá trình này.

 

Lúc đầu, Chính phủ đưa ra một mục tiêu rất tham vọng là đến 1/7/2010, sẽ cổ phần hóa hầu hết DNNN, bao gồm cả những tổng công ty lớn của nhà nước, và chỉ giữ lại khoảng vài trăm DN 100% vốn nhà nước ở dạng công ty TNHH một thành viên. Nhưng, trên thực tế, chỉ vài trăm DNNN được cổ phần hóa, phần nhiều là DN nhỏ và vừa.

 

Lý do khách quan được những người có trách nhiệm giải thích cho việc không đạt mục tiêu này là do khủng hoảng toàn cầu từ 2009. Nhưng, về bản chất, nên nhớ rằng, cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam là một quá trình kinh tế – chính trị, chứ không phải thuần túy kinh tế. Nó liên quan đến ý thức hệ (định hướng xã hội chủ nghĩa), đến các nhóm lợi ích, cũng như các vấn đề xã hội kéo theo. Vì vậy, quá trình này nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước.

 

Vậy nhận thức hiện nay về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước như thế nào? Có khác gì so với trước khi đặt ra mục tiêu chuyển hết DNNN sang hoạt động theo luật DN không? Đáp án chính xác chỉ có khi nào trả lời đầy đủ mấy câu hỏi dưới đây, thì mới nhận thức được đầy đủ vai trò này.

 

– Thứ nhất, nhìn về phát triển dài hạn, khu vực nào sẽ là lực lượng dẫn dắt? Từ trước đến nay, về cơ bản là DNNN và DN có vốn đầu tư nước ngoài, mặc dù là từ năm 2000 trở lại đây, tư nhân bắt đầu có sự tham gia ngày càng mạnh. Nhưng, trong tương lai, khu vực nào, liệu có phải tư nhân, trong đó có tư nhân nước ngoài, sẽ là lực lượng dẫn dắt?

 

– Thứ hai, một mặt, Nhà nước muốn tạo ra một sân chơi bình đẳng, một cấu trúc thị trường cạnh tranh có hiệu lực. Mặt khác, Nhà nước vẫn muốn duy trì vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước, và vai trò nòng cốt của DN 100% vốn nhà nước. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu có giải quyết được mâu thuẫn này không?

 

– Thứ ba, Nhà nước đã coi DN 100% vốn nhà nước là một DN, tức là họat động phải có hiệu quả và có định hướng lợi nhuận. Trong khi đó, nhà nước cũng lại coi các tập đoàn, tổng công ty lớn là một công cụ của mình để ổn định kinh tế vĩ mô. Câu hỏi lại được đặt ra về tính khả thi trong việc tách bạch hai lợi ích, hay hai kỳ vọng, rất mâu thuẫn với nhau này.

 

– Thứ tư, Việt Nam thừa nhận có độc quyền nhà nước, nhưng muốn ngăn cản độc quyền Nhà nước biến thành độc quyền DN. Nhưng cơ chế quản lý, kiểm soát hiện hành có giúp Việt Nam thực hiện được điều đó hay không?

 

– Thứ năm, Việt Nam muốn tách chức năng nhà nước với tư cách là chủ sở hữu DN, và nhà nước với tư cách là người quản lý và giám sát toàn bộ nền kinh tế. Nhưng liệu nhà nước có đủ sự bình tĩnh, tỉnh táo và không thiên vị với những đứa con do mình đẻ ra (DN 100% vốn nhà nước), trong sự so sánh với các khu vực khác trong nền kinh tế, mỗi khi chúng kêu gào quyền lợi?

 

 

PGS-TS Vũ Trọng Khải:

Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì ở nước nào cũng thế, chính phủ đều đóng ba vai trò cùng một lúc. Đó là chính phủ phải quản lý DNNN theo pháp luật; chính phủ là chủ sở hữu vốn và có thể chính phủ là chủ nợ.

 

Khi Chính phủ một lúc đóng ba vai với DNNN. Vấn đề là Chính phủ không được cấp thêm vốn hoặc bảo lãnh cho vay khi chưa biết chắc chắn DN ấy có khả năng sử dụng vốn có hiệu quả không, chưa kể việc sử dụng ngân sách nhà nước còn phải tuân thủ Luật Ngân sách. Phải xác định trong trường hợp nào Chính phủ quyết định đầu tư, Chính phủ bảo lãnh cho vay, trong trường hợp nào Chính phủ phát hành trái phiếu. Về mặt khoa học, Chính phủ không nên phát hành trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu trên thị trường thế giới để cho DN vay.

 

Trách nhiệm cho Vinashin vay quá nhiều vượt quá khả năng chi trả đương nhiên, về nguyên tắc, thuộc về Chính phủ vì Chính phủ cho vay trong khi Vinashin làm ăn không hiệu quả. Trong trường hợp của Vinashin, Chính phủ đã quá lạm dụng vai trò của mình trong việc đầu tư phát triển ngành công nghiệp đóng tàu quá nóng và tạo lập một tập đoàn quy mô vượt khả năng quản lý. Trong khi đó, Chính phủ lại không sử dụng công cụ kiểm toán để giám sát Vinashin.

 

Suy cho cùng, vấn đề là ở chỗ việc xác định chiến lược đóng tàu Việt Nam, tạo lập ra Tập đoàn Vinashin với mức đầu tư quá lớn, quy mô tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của lãnh đạo Vinashin cũng như khả năng kiểm tra, giám sát của Chính phủ.

 

Trong việc xác định chiến lược thì người quyết định có thể sai chứ chẳng thể lúc nào cũng đúng. Nhưng vấn đề là có lắng nghe ý kiến phản biện của các nhà khoa học hay không. Ví dụ dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam, Chính phủ có quyền trình nhưng Quốc hội lắng nghe các nhà khoa học chưa đồng ý cho làm… Nếu giới khoa học và Chính phủ đồng tình tìm ra một chiến lược mà sau này sai thì không thể đổ lỗi cho mỗi Chính phủ và ngược lại.

 

 

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế:

 

Thời điểm và cách mà Chính phủ tái cơ cấu Vinashin được xem là “đột ngột”, thậm chí đi ngược lại cả một nền kinh tế đang vận hành theo chiều hướng tái cấu trúc, trong đó mấu chốt là tái cấu trúc khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

 

Vinashin luôn được trì hoãn thanh tra, kiểm toán từ năm ngoái đến năm nay đã là không hay rồi. Quốc hội giám sát các tập đoàn kinh tế nhà nước cũng từng chỉ ra những yếu kém của khối doanh nghiệp này và những hậu quả có thể xảy ra mà Vinashin là một trong những doanh nghiệp luôn được dẫn chứng. Nếu là doanh nghiệp khác, với những hậu quả, số nợ và cách quản trị như vậy chắc chắn phải để phá sản.

 

Ba động tác cứu Vinashin: chuyển nợ, giãn nợ và bơm vốn là ba động tác rất mạnh của Chính phủ, khiến một số tập đoàn, DNNN có thể suy diễn theo kiểu cứ có vấn đề rồi Chính phủ sẽ cứu. Việc cứu Vinashin là “quá tốt với họ nhưng với nền kinh tế thì không”.

 

Vinashin hay bất cứ doanh nghiệp có vốn nhà nước nào trên bờ vực phá sản đáng lẽ cần phải được cải tổ, chấn chỉnh vài năm để chứng tỏ sức tồn tại đến đâu. Nay, họ chưa cần bất cứ nỗ lực cải tổ, thay đổi nào đã được chuyển nợ, bơm vốn. Làm như vậy thì làm sao họ có động lực mạnh để cải cách và nâng cao sức cạnh tranh?

 

Việc Việt Nam sử dụng vốn vay từ nước ngoài để cứu một tập đoàn như Vinashin – vốn đã được nhiều bên cho vay cảnh báo về hiệu quả sử dụng vốn, có thể làm cho uy tín vay nợ của Việt Nam bị ảnh hưởng. Họ cũng có quyền nghĩ những hành động kiểu như vậy là biểu hiện của một nhóm lợi ích và chỉ một nhóm lợi ích được hưởng.

 

 

Ông Cao Sỹ Kiêm – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa:

 

Một phần trong số tiền 500 triệu đô la Mỹ mà Việt Nam vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) từ Quỹ Hỗ trợ khắc phục khủng hoảng hồi tháng 9 năm ngoái cũng sẽ được giải ngân cho Vinashin. Nếu rót vốn từ quỹ này cho Vinashin vay, người ta cũng có quyền đặt câu hỏi về khả năng trả nợ đúng hạn, nhất là cho vay để Vinashin hoàn thành nốt các dự án đóng tàu dở dang mà không đợi có chủ tàu mới.

 

Theo phân tích của Cục Hàng hải Việt Nam, ngành vận tải biển thế giới vẫn trong cơn suy thoái với 511 tàu container của các hãng lớn trên thế giới đã ngừng hoạt động. Số tàu còn lại phải giảm giá cước, đánh tụt hạng để tiết kiệm chi phí và đây là cơ hội để mua được các tàu hiện đại với giá rẻ có lợi hơn nhiều lần so với đóng tàu mới.

 

Mặt khác nữa, cho Vinashin vay thêm trong lúc này cũng khiến họ tiếp tục “mắc cạn” theo kiểu nợ chồng nợ. Bởi tính riêng lãi suất trái phiếu 750 triệu đô la Mỹ hàng năm mà họ phải trả tính ra đã trên 50 triệu đô la, chưa kể đến việc huy động ngoại tệ để bắt đầu trả nợ gốc. Trong khi ấy, Cục Hàng hải dự báo ngành vận tải biển nhanh nhất cũng phải sau gần hai năm nữa mới có dấu hiệu hồi phục.

 

Chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt:

 

Thứ nhất nợ chồng chất của Vinashin đang làm mất uy tín của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.

 

Thứ hai, cách giải quyết của chính phủ Việt Nam bắt các tập đoàn quốc doanh khác (PVN và Vinalines, ngân hàng) gánh bớt nợ cho Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam sẽ tác động dây chuyền đến ngân sách của Việt Nam, đe dọa lạm phát gia tăng.

 

Cốt lõi của vấn đề tựu chung cũng chỉ xoay quanh vấn đề quản lý và tính hiệu quả của các công ty nhà nước, từ sự « nhập nhằng giữa ngân sách nhà nước và ngân sách doanh nghiệp », tính phi kinh tế của một số quyết định từ trung ương.Nguy hiểm là Tập đoàn công nghiệp tàu thủy đang làm mất uy tín của Việt Nam này trong mắt các nhà đầu tư quốc tế./.

 

 

 

 

 

Qua rà soát toàn bộ việc thực hiện qui định đấu thầu trong thực hiện các dự án của Tập đoàn từ 1-1-2006 đến 30-9-2009, phát hiện rất nhiều sai phạm. Trong đó sai phạm chủ yếu nằm ở việc hầu hết các gói thầu xây lắp đều được thực hiện theo hình thức chỉ định thầu. Nhiều dự án do ông Phạm Thanh Bình quyết định đầu tư và thực hiện chỉ định thầu, phê duyệt giá thầu, tổ chức đấu thầu chưa đủ căn cứ, chưa đúng qui định. Chỉ tính riêng giai đoạn 2008-2009, trong 106 dự án thuộc 65 chủ đầu tư với 2.245 gói thầu các loại, thì chỉ có 936 gói  được đấu thầu rộng rãi, có đến 438 gói được chỉ định thầu, 525 gói tự thực hiện, 53 gói đấu thầu hạn chế, 36 gói mua sắm trực tiếp và 257 gói chào hàng cạnh tranh.

 

 

 

 

Exit mobile version