Bỏ qua để đến nội dung chính
Doanh Nghiệp

Việt Nam bước sang cuộc chơi FDI mới sau 40 năm mở cửa

Editor VEF · 02/07/2026
Chia Sẻ

Gần 40 năm sau khi mở cửa đón dòng vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang bước vào một cuộc chơi hoàn toàn khác. Điều cần cạnh tranh hôm nay mỗi tỷ USD sẽ tạo ra bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam và bao nhiêu năng lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được phổ biến tới gần 35.000 điểm cầu trên cả nước với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự, một quy mô cho thấy FDI đã trở thành vấn đề chiến lược phát triển quốc gia.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nói, trong gần bốn thập kỷ qua, nhiệm vụ trọng tâm là mở cửa để thu hút các nguồn lực quốc tế.

Trong giai đoạn mới, ông bổ sung thêm, trọng tâm là phát huy hiệu quả những nguồn lực đó, kết hợp với nội lực của đất nước để kiến tạo các năng lực phát triển mới của quốc gia.

Theo ông Túc, cả nước hiện có hơn 46.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 550 tỷ USD. Khu vực FDI đã trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xuất khẩu, tạo việc làm và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.

Nhưng cùng với thành công, những giới hạn của mô hình thu hút FDI cũ cũng ngày càng rõ hơn: liên kết với doanh nghiệp trong nước còn yếu, chuyển giao công nghệ và sức lan tỏa chưa như kỳ vọng.

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 trong bối cảnh dòng vốn toàn cầu đang chuyển mạnh sang công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành công nghiệp chiến lược, lợi thế lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế không còn đủ sức cạnh tranh.

Nói cách khác, cuộc cạnh tranh FDI đang dịch chuyển từ cuộc đua về chi phí sang cuộc đua về chất lượng của cả một hệ sinh thái phát triển.

Vì vậy, Nghị quyết 10 không chỉ đặt mục tiêu thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong giai đoạn 2026-2030, mà lần đầu tiên đưa các tiêu chí về chất lượng lên vị trí trung tâm: 75% vốn FDI đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển; khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 40-50%.

Những mục tiêu này cho thấy thành công của FDI được đo bằng mức độ chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam và những năng lực mới được tạo ra cho nền kinh tế.

Sự thay đổi này cũng đồng nghĩa với việc cuộc cạnh tranh thu hút FDI giữa các địa phương sẽ không còn giống trước. Trong cuộc chơi mới, thứ quyết định sức hút của một địa phương sẽ là chất lượng đại học, năng lực nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, môi trường đổi mới sáng tạo và khả năng kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Câu hỏi tiếp theo là các địa phương sẽ hiện thực hóa tư duy đó ra sao. Những tham luận của TP.HCM, Đà Nẵng và Hà Nội tại hội nghị cho thấy cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư của Việt Nam cũng đang bước sang một giai đoạn rất khác.

Các địa phương đang định nghĩa lại lợi thế cạnh tranh

TP.HCM, Đà Nẵng và Hà Nội – ba địa phương là đầu tầu kinh tế – không còn nhấn mạnh quỹ đất, lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế. Thay vào đó là trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, R&D và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Theo Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được, thành phố hiện có hơn 20.000 dự án FDI với tổng vốn gần 142 tỷ USD.

Trong bối cảnh các tập đoàn toàn cầu ngày càng coi trọng thể chế, môi trường kinh doanh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, TP.HCM lựa chọn xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế như một bước đi để nâng cấp chất lượng dòng vốn.

Mục tiêu của thành phố không chỉ là thu hút thêm vốn đầu tư, mà là thu hút cả công nghệ, quản trị hiện đại và mạng lưới kết nối toàn cầu.

Trong khi đó, Đà Nẵng lại muốn trở thành nơi các doanh nghiệp công nghệ có thể ở lại lâu dài. Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh, đến nay thành phố thu hút gần 1.100 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 4,8 tỷ USD.

Đà Nẵng xác định không chạy theo số lượng dự án mà ưu tiên thu hút FDI chất lượng cao. Khu thương mại tự do Đà Nẵng được định hướng trở thành không gian phát triển mới, gắn với cảng Liên Chiểu, sân bay Chu Lai và các ngành công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu và logistics.

Trong khi đó, Hà Nội đặt cược vào lợi thế khó sao chép nhất: con người và tri thức. Theo Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng, lợi thế lớn nhất của Thủ đô ở khả năng hội tụ các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và trung tâm R&D.

Chính những yếu tố này cũng là điều các nhà đầu tư công nghệ quan tâm nhiều hơn mặt bằng hay ưu đãi thuế khi lựa chọn địa điểm đầu tư.

Từ trung tâm tài chính quốc tế của TP.HCM, khu thương mại tự do của Đà Nẵng đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Hà Nội, ba địa phương lựa chọn những hướng đi khác nhau nhưng cùng phản ánh một xu thế: Việt Nam không còn cạnh tranh bằng chi phí thấp, mà bằng chất lượng thể chế, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo.

Sau gần 40 năm mở cửa, Việt Nam cần chứng minh trong giai đoạn tới là mỗi tỷ USD FDI sẽ tạo ra bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam và bao nhiêu năng lực phát triển mới cho đất nước. 

Doanh Nghiệp

Thêm từ chuyên mục này

Dưới sự bảo trợ của

Boston Global Forum & AIWS

Một cầu nối ý tưởng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và mạng lưới trí thức toàn cầu của Boston, Harvard và MIT.

Bản tin

Nhận các bản tóm tắt song ngữ của chúng tôi về doanh nghiệp, thị trường và kỷ nguyên AI.